Trì hoãn sinh con hay tuổi mẹ cao được định nghĩa khi tuổi mẹ lớn hơn hoặc bằng 35 tuổi ở thời điểm sinh con đầu tiên. Cùng với sự phát triển của xã hội hiện đại nhu cầu phát triển ngày càng cao về học vấn và sự nghiệp, phụ nữ trẻ thường có xu hướng trì hoãn việc sinh con sau tuổi 30. Tuổi mẹ khi sinh con đầu lòng tăng đáng kể trong những năm gần đây ở một số nước, đặc biệt ở các nước phát triển. Theo thống kê, ở Thuỵ Sĩ, độ tuổi này tăng từ 25 tuổi năm 1970 lên 30 tuổi năm 2010. Ngoài ra, Trung Quốc cũng ghi nhận tuổi phụ nữ sinh con đầu tiên tăng từ 24,3 lên 26,24 tuổi trong 10 năm từ 2000-2010. Đồng thời, tỉ lệ sinh ở nhóm phụ nữ trên 35 tuổi tăng 96,9% (từ 8,65% lên 17,04%) trong khi tỉ lệ này giảm từ 102,44% xuống còn 93,62% ở nhóm phụ nữ 25-29 tuổi từ năm 2004 đến 2014 ở quốc gia này (1). Nguyên nhân phổ biến nhất của xu hướng sinh con muộn do phụ nữ chưa tìm thấy đối tượng phù hợp để lập gia đình. Ngoài ra, các yếu tố về nhu cầu nâng cao trình độ học vấn, phát triển sự nghiệp và nỗi lo ảnh hưởng đến công việc là nguyên nhân phổ biến tiếp theo của việc trì hoãn sinh con sau tuổi 35 (2).

Tuy nhiên, sau độ tuổi 35, khả năng sinh sản của phụ nữ giảm nhanh và tiếp tục giảm mỗi năm đến khi mãn kinh do noãn giảm số lượng và chất lượng. Điều này dẫn đến việc giảm khả năng thụ tinh của noãn, tăng bất thường về di truyền của phôi và tăng tỉ lệ sẩy thai. Khi việc trì hoãn sinh con trở nên phổ biến, vấn đề bảo tồn khả năng sinh sản ở phụ nữ hiện nay ngày càng được quan tâm.

 

Thuật ngữ “Trữ noãn xã hội” được dùng khi noãn hoặc mô buồng trứng được đông lạnh cho mục đích sử dụng về sau và không liên quan đến các nguyên nhân bệnh lý hay chỉ định y khoa. Trữ noãn xã hội cho phép phụ nữ bảo tồn khả năng sinh sản trước khi noãn giảm chất lượng và số lượng theo tuổi. Đây được xem là lựa chọn thiết thực nhằm khắc phục các vấn đề hiếm muộn liên quan đến tuổi mẹ cao và cho phép phụ nữ trong xã hội hiện đại cân bằng được về tâm lý và chủ động về kinh tế trước khi bước vào hành trình làm mẹ.

  1. Các phương pháp trữ noãn xã hội

Đông lạnh noãn và mô buồng trứng là hai phương pháp bảo tồn khả năng sinh sản ở phụ nữ được áp dụng hiện nay. Để thu được noãn, người phụ nữ sẽ trải qua quá trình kích thích buồng trứng và chọc hút trứng. Sau đó, noãn sẽ được đông lạnh theo phương pháp thuỷ tinh hoá và trữ đông trong Nitơ lỏng. Quá trình kích thích buồng trứng có thể bắt đầu vào thời điểm bất kỳ của chu kỳ kinh nguyệt. Điều này tạo thuận lợi cho phụ nữ trong việc tiết kiệm thời gian cho quá trình điều trị. Ngoài ra, đông lạnh mô buồng trứng cũng là một phương pháp bảo tồn khả năng sinh sản. Tuy nhiên, việc can thiệp ngoại khoa để thu nhận và cấy ghép mô buồng trứng là bất lợi của phương pháp này. Chính vì vậy, phương pháp bảo tồn khả năng sinh sản thuận tiện và hiệu quả nhất hiện nay là trữ noãn.

  1. Độ tuổi thích hợp để trữ noãn xã hội

Tuổi của phụ nữ ở thời điểm đông lạnh noãn và số lượng noãn trưởng thành thu được góp phần quan trọng vào khả năng có trẻ sinh sống. Thời điểm thích hợp nhất để phụ nữ tiến hành đông lạnh noãn và đem lại khả năng thành công cho quá trình điều trị trong tương lai là dưới 35 tuổi. Việc đông lạnh noãn khi trẻ tuổi giúp giảm số chu kỳ cần điều trị, giảm liều thuốc kích thích buồng trứng để thu được số lượng noãn cần thiết và chất lượng noãn tối ưu. Tuy nhiên, điều này đi kèm nguy cơ các noãn đông lạnh không được sử dụng về sau. Theo một nghiên cứu thực hiện tại Úc, từ năm 1999 đến 2014, chỉ 6% số phụ nữ quay lại sử dụng noãn đã đông lạnh và 3% số phụ nữ đông lạnh noãn sinh trẻ khoẻ mạnh (3). Mesen và cộng sự chỉ ra rằng 32-37 tuổi là độ tuổi thích hợp nhất để đông lạnh noãn để có được lợi ích tối ưu, trong khi lợi ích này ít hơn ở nhóm tuổi 25-30 (4). Đến nay, vẫn chưa có sự thống nhất về độ tuổi tối ưu để đông lạnh noãn

  1. Số noãn cần đông lạnh tối ưu

Số noãn thu được trong một chu kỳ kích thích buồng trứng phụ thuộc vào tuổi, dự trữ buồng trứng và các bệnh lý đi kèm. Để thu được số lượng noãn đảm bảo cho việc sử dụng noãn đông lạnh trong tương lai thành công, người phụ nữ có thể cần trải qua nhiều hơn 1 chu kỳ điều trị. Nghiên cứu cho thấy khả năng có một trẻ sinh sống tăng khi có đủ số lượng noãn cần thiết và phụ thuộc vào độ tuổi lúc trữ noãn. Các dữ liệu chỉ ra tỉ lệ trẻ sinh sống cộng dồn đạt hơn 90% khi có 24 noãn trữ và 85,2% đối với 10-15 noãn ở phụ nữ đông lạnh noãn trước 35 tuổi (5). Hiện nay, các thuật toán được sử dụng để ước tính khả năng có trẻ sinh sống dựa trên số noãn đông lạnh và độ tuổi phụ nữ lúc chọc hút noãn. Theo công thức tính của Goldman, để đạt tỉ lệ trẻ sinh sống cộng dồn 75%, số noãn đông lạnh cần thiết đối với phụ nữ 34, 37 và 42 tuổi lần lượt là 10, 20 và 61 noãn (6). Việc xác định số noãn đông lạnh quan trọng trong hiệu quả của quá trình đông lạnh noãn. Số lượng noãn ít sẽ ảnh hưởng tỉ lệ thành công của điều trị, trong khi, số lượng noãn quá nhiều sẽ gây tốn kém về chi phí điều trị và đông lạnh noãn.

  1. Hiệu quả của trữ noãn xã hội

Trữ noãn xã hội ở độ tuổi phù hợp giúp phụ nữ giảm chi phí điều trị hiếm muộn và đem lại hiệu quả cao hơn khi bắt đầu can thiệp khi lớn tuổi. Loendersloot và cộng sự chỉ ra việc đông lạnh noãn đem lại hiệu quả khi 61% phụ nữ quay lại sử dụng noãn đông lạnh của mình (7). Kết cục thai kỳ của noãn đông lạnh được cho rằng tương tự với noãn tươi, với tỉ lệ noãn sống sau rã đông đạt 90-97%, tỉ lệ thụ tinh đạt 71-79%, tỉ lệ làm tổ của phôi đạt 17-41% và tỉ lệ thai lâm sàng đạt 4,5-12% cho một noãn sau rã đông (2). Các trường hợp trẻ sinh sống khi sử dụng noãn đông lạnh cũng đã được công bố (8).

  1. Tính an toàn của việc trữ noãn xã hội

Các nghiên cứu so sánh trẻ sinh ra từ noãn đông lạnh và noãn tươi trong điều trị thụ tinh trong ống nghiệm hoặc trẻ sinh tự nhiên cho thấy không có sự khác biệt về kết cục sơ sinh, bệnh lý di truyền hay dị tật bẩm sinh ở những trẻ này (9). Nguy cơ thai kỳ thường liên quan đến tuổi mẹ cao như nguy cơ sẩy thai sớm, tiền sản giật, đái tháo đường thai kỳ, trẻ sinh non và nhẹ cân. Tuy nhiên, nguy cơ này cũng tương tự ở những phụ nữ lớn tuổi mang thai với noãn đông lạnh (10). Việc đông lạnh noãn không làm ảnh hưởng đến khả năng tạo phôi nguyên bội và thành công của điều trị thụ tinh trong ống nghiệm.

  

Trữ noãn xã hội là lựa chọn tối ưu để phụ nữ bảo tồn khả năng sinh sản, vượt qua trở ngại về việc giảm số lượng và chất lượng noãn khi lớn tuổi. Các phương pháp đông lạnh noãn ngày càng được hoàn thiện để cải thiện hiệu quả và nâng cao tính an toàn của đông lạnh trữ noãn và sử dụng noãn đông lạnh. Phụ nữ nên được tư vấn về khả năng thành công, hiệu quả của quá trình đông lạnh noãn và có kế hoạch cho việc sử dụng noãn đông lạnh sau này.

1.         Li, H., Nawsherwan, Fan, C., Mubarik, S., Nabi, G. and Ping, Y.X. The trend in delayed childbearing and its potential consequences on pregnancy outcomes: a single center 9-years retrospective cohort study in Hubei, China. BMC Pregnancy and Childbirth. 2022, 22(1), p.514.

2.         Anderson, R.A., Davies, M.C. and Lavery, S.A. Elective Egg Freezing for Non-Medical Reasons: Scientific Impact Paper No. 63. Bjog. 2020, 127(9), pp.e113-e121.

3.         Hammarberg, K., Kirkman, M., Pritchard, N., Hickey, M., Peate, M., McBain, J., Agresta, F., Bayly, C. and Fisher, J. Reproductive experiences of women who cryopreserved oocytes for non-medical reasons. Hum Reprod. 2017, 32(3), pp.575-581.

4.         Mesen, T.B., Mersereau, J.E., Kane, J.B. and Steiner, A.Z. Optimal timing for elective egg freezing. Fertil Steril. 2015, 103(6), pp.1551-1556.e1551-1554.

5.         Cobo, A., García-Velasco, J., Domingo, J., Pellicer, A. and Remohí, J. Elective and Onco-fertility preservation: factors related to IVF outcomes. Hum Reprod. 2018, 33(12), pp.2222-2231.

6.         Goldman, R.H., Racowsky, C., Farland, L.V., Munné, S., Ribustello, L. and Fox, J.H. Predicting the likelihood of live birth for elective oocyte cryopreservation: a counseling tool for physicians and patients. Hum Reprod. 2017, 32(4), pp.853-859.

7.         van Loendersloot, L.L., Moolenaar, L.M., Mol, B.W., Repping, S., van der Veen, F. and Goddijn, M. Expanding reproductive lifespan: a cost-effectiveness study on oocyte freezing. Hum Reprod. 2011, 26(11), pp.3054-3060.

8.         Azambuja, R., Badalotti, M., Okada, L., Cortes, L.S., Hentschke, M.R. and Petracco, A. Fertility preservation: a case report of a newborn following 13 years of oocyte cryopreservation. JBRA Assist Reprod. 2023, 27(2), pp.328-331.

9.         Chian, R.C., Huang, J.Y., Tan, S.L., Lucena, E., Saa, A., Rojas, A., Ruvalcaba Castellón, L.A., García Amador, M.I. and Montoya Sarmiento, J.E. Obstetric and perinatal outcome in 200 infants conceived from vitrified oocytes. Reprod Biomed Online. 2008, 16(5), pp.608-610.

10.       Gunnala, V. and Schattman, G. Oocyte vitrification for elective fertility preservation: the past, present, and future. Curr Opin Obstet Gynecol. 2017, 29(1), pp.59-63.